Các quốc gia có thể làm gì để cắt giảm phát thải cacbon?

Hiện nay, đa số các nhà khoa học đều nhất trí là có mối liên hệ giữa hiện tượng ấm lên toàn cầu và phát thải khí nhà kính có nguồn gốc con người. Theo một số tài liệu (mặc dầu các ước tính khoa học còn chưa thực sự chính xác) thì để trái đất không nóng lên quá 2oC, phải cắt giảm mức phát thải hằng năm từ gần 50 tỉ tấn khí nhà kính hiện nay xuống còn 5 – 10 tỉ tấn vào năm 2050, hoặc thấp hơn. Trước thực tế đó, cộng đồng các nhà khoa học đã thúc đẩy lãnh đạo các nước trên khắp thế giới bắt tay vào hành động. Liên minh châu Âu đã đặt mục tiêu đến năm 2020, cắt giảm phát thải khí nhà kính xuống thấp hơn mức năm 1990 từ 20 đến 30%. Các nhà lãnh đạo các nước khác cũng đang thảo luận về các mục tiêu tương tự. Một số quốc gia thậm chí còn nói rằng họ mong muốn đến năm 2050 sẽ trung hoà về cacbon (mức phát thải và thu giữ cacbon cân bằng nhau). Những câu hỏi được bàn cãi nhiều nhất là: Phải làm gì để cắt giảm đáng kể mức khí nhà kính? Phương pháp nào là hiệu quả nhất? Cái giá phải trả để đạt được mục tiêu đó là bao nhiêu, tính bằng tiền cũng như những thay đổi về phong cách sống? Ai sẽ phải gánh chịu các chi phí này?

Để hiểu rõ hơn về các phương cách cắt giảm phát thải, chi phí phải trả và mức cắt giảm có thể đạt được theo mỗi phương cách, làm cơ sở để tranh luận, McKinsey & Company, một công ty tư vấn hàng đầu trên thế giới, trụ sở tại New York (Mỹ) có văn phòng tại trên 50 quốc gia, đã tiến hành nghiên cứu từ nhiều năm nay về các cơ hội cắt giảm phát thải khí nhà kính. Năm 2007, công ty này đã hoàn thành công trình nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu. Gần đây hơn, họ tập trung vào bốn quốc gia là Úc, Đức, Anh và Mỹ. Để tập hợp được những dữ liệu tốt nhất có thể có về các biện pháp cắt giảm phát thải, họ đã hợp tác với các công ty hàng đầu, các cơ quan nghiên cứu, các hiệp hội công nghiệp và các tổ chức phi chính phủ (nongovernmental organization – NGO).

Mặc dầu còn đang tiếp tục nghiên cứu về các quốc gia khác nhưng McKinsey đã có thể đưa ra một số nhận xét: Bốn nền kinh tế lớn nói trên có khả năng cắt giảm được 25% mức mà mỗi quốc gia này sẽ phát thải vào năm 2030 nếu như họ không nỗ lực thực hiện bất cứ biện pháp cắt giảm nào. Ngoài ra, có thể thực hiện việc cắt giảm này với chi phí tương đối thấp, thậm chí không cần chi phí và các quốc gia này cũng không phải thay đổi đáng kể về phong cách sống. Ở Úc, tiềm năng còn lớn hơn: cắt giảm tới 70%, với chi phí thấp hoặc không cần chi phí.

Đã vậy, trong số các cơ hội này, nhiều trường hợp lại còn có lãi. Nói chung phần lớn đều xoay quanh vấn đề hiệu quả năng lượng: Đầu tư vào cách nhiệt cho các toà nhà, thiết bị máy móc hiệu suất cao hơn, các hệ thống sưởi ấm và điều hoà không khí hiệu suất cao hơn. Thu hồi vốn dựa vào giảm hoá đơn tiền điện, năng lượng. Đây là những tin đáng khích lệ, tuy nhiên các biện pháp này chưa đủ để đạt mức cắt giảm yêu cầu nhằm chặn đứng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Cần có những nỗ lực khác, cụ thể là thực hiện các biện pháp kỹ thuật tốn kém hơn, phát triển công nghệ mới, trồng rừng để thu giữ cacbon, và tác động tới thói quen của người tiêu thụ năng lượng.

Các phương án cắt giảm cacbon với chi phí thấp

Công ty McKinsey đã xác định được phạm vi các cơ hội có thể cắt giảm phát thải với chi phí thấp. Cụ thể là nếu trong 22 năm tới, Mỹ không có cố gắng gì về việc sử dụng các loại xe có nhiên liệu cao hơn và chuyển sang đi xe công cộng hoặc sử dụng xe 4 chỗ thay cho xe 7 chỗ thông dụng như hiện nay, tức là theo kịch bản “nền nếp cũ” (business as usual) thì mức phát thải của nước này sẽ tăng từ khoảng 6 tỉ tấn khí nhà kính lên gần 9 tỉ tấn vào năm 2030. Ngược lại, Mỹ có thể loại trừ 3 đến 4,5 tỉ tấn phát thải hằng năm vào năm 2030 nếu nước này áp dụng một cách kiên trì và có hệ thống các phương án cắt giảm với chi phí chưa đầy 50 USD/tấn. Cụ thể là nâng cao hiệu suất nhiên liệu của các loại xe gia đình và xe tải nhỏ, xúc tiến sử dụng nhiên liệu sinh học thế hệ 2, cải tiến quản lý phát thải khí mêtan trong mỏ than, kiên trì hơn trong việc phát triển vụ đông trên đất nông nghiệp, trồng rừng mới, và xây dựng hệ thống điện gió tại những vùng nhiều gió.
Ở Anh và Đức, tổng lượng phát thải và mức tăng trưởng theo kịch bản “nền nếp cũ” thấp hơn nhiều so với Mỹ. Mặc dầu các cơ hội cắt giảm phát thải ở Anh và Đức chí ít cũng tương đương với các cơ hội ở bờ bên kia Đại Tây Dương (trong một số trường hợp thậm chí còn lớn hơn), nhưng mức cắt giảm tuyệt đối lại nhỏ hơn: khoảng 230 triệu tấn với giá chưa đầy 40 euro cho một tấn khí nhà kính ở Anh, và khoảng 290 triệu tấn ở Đức. Úc lại khác hẳn bởi nước này có thể cắt giảm 560 triệu tấn, một con số rất đáng kể, bởi con số dự báo về phát thải khí nhà kính là gần 800 triệu tấn vào năm 2030 theo kịch bản “nền nếp cũ”. Tiềm năng cắt giảm khí nhà kính lớn như vậy một phần vì theo kịch bản “nền nếp cũ”, nước này sẽ tiếp tục phát quang đất trên qui mô lớn như hiện nay, và để tăng trưởng nguồn điện, họ cũng có thể chuyển từ phương án xây dựng các nhà máy nhiệt điện than sang các nhà máy điện thu giữ cacbon điôxit, cũng như áp dụng các phương án thay thế hiệu quả hơn về cacbon.

Bốn quốc gia trên đều có nhiều cơ hội gắn liền với việc áp dụng các công nghệ năng lượng ít cacbon. Khoảng 60 – 70% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu có liên quan đến năng lượng. Các nguồn phát thải chính là nhiên liệu hoá thạch dùng trong giao thông, sưởi ấm (các toà nhà và nước), và phát điện. Trong phát điện, việc sử dụng các nguồn năng lượng cacbon thấp như thuỷ điện, năng lượng gió, mặt trời và hạt nhân, vào năm 2030 có thể tăng gấp đôi và chiếm hơn một nửa tổng sản lượng điện. Cũng vậy, sinh khối, địa nhiệt, sưởi ấm đô thị (sử dụng hệ thống đường ống chứa nước nóng để sưởi ấm khu vực lân cận), và các phương cách ít cacbon khác để sưởi ấm các toà nhà cũng có thể cắt giảm được đáng kể lượng phát thải.

Trong sản xuất điện, Úc và Mỹ có mức phát thải CO2 tương đối cao, trên 0,6 kg cho 1 kWh. Theo kịch bản chỉ áp dụng các biện pháp có chi phí tương đối thấp, cường độ phát thải CO2  trong sản xuất điện ở Mỹ vẫn còn cao nhưng sẽ tụt giảm mạnh ở Úc bởi vì công nghệ thu giữ cacbon (carbon capture and storage – CCS) có thể áp dụng với chi phí thấp hơn trong ngành điện dựa vào than đang tăng trưởng nhanh của đất nước này.

Điều này cho thấy rõ tác động của CCS sẽ được phát huy nếu như nó được khẳng định về mặt công nghệ và thương mại, được xã hội chấp nhận và được đưa vào trong khuôn khổ pháp lý. Mặc dù công nghệ này chỉ có tác dụng đối với phát thải từ nhiên liệu hoá thạch, tuy nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu đều tin rằng trong một tương lai có thể dự đoán được, than và các hyđrocacbon khác vẫn góp phần chủ yếu trong cân bằng năng lượng toàn cầu, cho dù các quốc gia có chuyển đổi sang các phương án thay thế ít cacbon.

Thu lợi nhuận từ cắt giảm phát thải

Một tỉ lệ khá cao các phương án cắt giảm phát thải lại đem lại lợi nhuận vì các chi phí được trang trải trong thời gian tuổi thọ. Áp dụng kiên trì các sản phẩm và công nghệ hiệu quả năng lượng – từ bóng đèn, thiết bị và máy móc hiệu quả năng lượng đến cách nhiệt tốt hơn cho các toà nhà – có thể cắt giảm phát thải của cả nước ở mức hai con số và chi phí năng lượng tiết kiệm được sẽ lớn hơn chi phí phải trả thêm cho bóng đèn và vật liệu cách nhiệt. Ở Đức, đến năm 2020, ngành sản xuất công nghiệp có thể loại bỏ trên 30 triệu tấn phát thải mỗi năm mà vẫn có lãi ròng (cụ thể bằng cách tăng cường sử dụng các hệ thống động cơ hiệu quả về năng lượng có tốc độ truyền động thay đổi được). Ngành công nghiệp Đức có thể nâng cao hiệu suất năng lượng trên 1,5%/năm và do đó bù được mức tăng trưởng sản lượng dự kiến.

Nếu các cơ hội đó mang lại lợi ích, vậy tại sao người sử dụng năng lượng và các doanh nghiệp lại chưa áp dụng? Đó là vì những bất cập của thị trường – cụ thể là người sử dụng năng lượng và những người ra quyết định của các doanh nghiệp còn chưa nhận thức được đầy đủ vấn đề này. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rất nhiều người chưa thấy được những thứ họ có thể làm hoặc các công nghệ họ có thể áp dụng để giảm nhu cầu năng lượng và giảm hoá đơn năng lượng.

Hơn nữa, cũng chưa có nhiều phương án lựa chọn để thu hút một số lượng lớn những người sử dụng có thể lựa chọn các phương pháp hiệu quả về năng lượng. Một rào cản là đầu tư ban đầu. Chi phí cải tạo nhà bằng cách lắp cách nhiệt có tính năng cao có thể lên tới vài chục nghìn đô la, nhiều người sử  dụng năng lượng không thể hoặc không muốn vay hoặc tiết kiệm để trả, cho dù về lâu dài là có lợi. Họ cũng ngần ngại ngay cả đối với những khoản chi phí ban đầu nhỏ hơn, ví dụ như để mua các thiết bị tiết kiệm năng lượng, nếu như phải mất trên 2 năm để hoàn vốn.

Cuối cùng là một số vấn đề ảnh hưởng tới thị trường. Cụ thể là các nhà thầu xây dựng không cảm thấy hứng thú với việc cách nhiệt nhà ở cao hơn mức yêu cầu trong qui phạm xây dựng bởi vì chủ sở hữu nhà cũng như người thuê đều không muốn phải trả tiền nhiều hơn, cho dù cách nhiệt phẩm cấp cao có thể giảm hoá đơn năng lượng. Ở Đức, nhiều trường hợp nhà nước không cho phép chủ nhà đẩy chi phí làm lại cách nhiệt sang người thuê.

Cắt giảm phát thải nhiều hơn

Những biện pháp nêu trên có thể giúp cắt giảm đáng kể phát thải khí nhà kính nhưng chưa đủ để chặn đứng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong điều kiện liên tục tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số, việc cắt giảm được 25 – 30 % mức phát thải vào năm 2030 nếu như không thực hiện bất cứ biện pháp cắt giảm nào không cải thiện tình hình được mấy đối với bốn nền kinh tế phát triển này. Thậm chí nếu như tất cả các quốc gia khác cũng làm được như vậy thì cũng chỉ đủ để ổn định hoặc giảm phát thải toàn cầu ở mức rất hạn chế. Để có thể giới hạn mức nóng lên không quá 2oC, thế giới không chỉ phải cắt giảm ít nhất là 50% mức hiện nay vào năm 2030 mà còn phải cắt giảm 80% hoặc nhiều hơn vào năm 2050, cho dù dân số và GDP của toàn thế giới tăng. Làm thế nào và liệu có thể đạt được các mục tiêu này hay không thì hiện nay chưa xác định được, nhưng rõ ràng là nếu như các tính toán khoa học hiện nay về khí hậu là đúng thì phải xem xét đến việc cắt giảm nhiều hơn nữa, và các biện pháp kỹ thuật nêu trên là chưa đủ.

Thủy điện là một trong những nguồn năng lượng ít phát thải

Các quốc gia sẽ phải lựa chọn. Trước tiên, một số biện pháp cắt giảm ít tốn kém có thể được mở rộng ra ngoài phạm vi ban đầu, cho dù có thể không còn hấp dẫn nữa về chi phí. Cụ thể là ở Đức, việc cách nhiệt tốt hơn các toà nhà đạt mức tiêu chuẩn 7 lít dầu qui đổi cho 1 m2 so với mức kém là 25 lít/m2 sẽ giảm tiêu thụ năng lượng rõ rệt, và theo thời gian có thể thu hồi vốn. Đẩy lên quá giới hạn này để đạt mức tiêu chuẩn 2 lít sẽ là rất tốn kém, giá thành lên tới 700 – 1.000 euro cho một tấn CO2 cắt giảm. Cũng vậy, các trại gió không chỉ lắp đặt tại những địa phương nhiều gió và gần với lưới điện mà cả ở những nơi ít gió hơn hoặc tại những vùng xa xôi hẻo lánh. Tương tự, có thể triển khai các hệ thống năng lượng mặt trời tại những nơi ít nắng hơn. Nếu như các điều kiện không phải là tối ưu, chi phí cho việc cắt giảm một tấn phát thải có thể dễ dàng tăng lên trên 100 euro/1 tấn CO2. Cũng vậy, mặc dù có thể áp dụng công nghệ thu giữ cacbon (CCS) trên một phần lớn các nhà máy đốt nhiên liệu hoá thạch hiện có, nhưng làm như vậy sẽ rất tốn kém. Các quốc gia cũng có thể trợ cấp để người dân sử dụng xe kết hợp động cơ nhiệt và động cơ điện (xe hybrid), mặc dầu đây là công nghệ có chi phí cao.

Thứ hai, các quốc gia có thể tập trung vào việc phát triển các công nghệ ít cacbon thế hệ tiếp theo, cụ thể như nhiên liệu sinh học và pin mặt trời thế hệ 2, để đảm bảo chúng trở nên cạnh tranh về giá thành. Có thể là trước mắt chưa giúp cắt giảm phát thải, nhưng trong tương lai chúng sẽ tạo ra nhiều phương án lựa chọn hơn.

Thứ ba, rừng trên thế giới là cơ hội đáng kể để cắt giảm phát thải. Hiện nay, việc chặt phá rừng chiếm 10 – 30% phát thải toàn cầu; con số ước tính sai khác lớn như vậy chứng tỏ trước đây người ta ít lưu tâm đến lĩnh vực này. Bằng cách hạn chế phá rừng hoặc trồng rừng lại một số vùng và quản lý rừng toàn cầu – tiềm năng trong lĩnh vực này phần lớn nằm ở các nước nhiệt đới – thế giới có thể cắt giảm phát thải khoảng 7 tỉ tấn khí nhà kính mỗi năm. Tuy nhiên phải làm sao thúc đẩy các cổ đông chuyển sang phương hướng đó (ví dụ bằng cách cung cấp nguồn thu nhập thay thế) và các cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn. Xây dựng các qui chuẩn thiết kế trong lĩnh vực này sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc cắt giảm phát thải toàn cầu với chi phí thấp.

Các quốc gia cũng có thể khuyến khích người dân sử dụng ít nước hơn, sử dụng ít mặt bằng hơn và ít thiết bị hơn, ngắt điện các thiết bị chạy không tải. Đưa ra các qui định không phải là phương cách duy nhất để hay đổi thói quen của người sử dụng năng lượng. Các doanh nghiệp có thể chào bán các sản phẩm xanh cho những người sẵn sàng đón nhận ngày càng đông đảo.

Ngôi nhà sử dụng kính cách nhiệt

Phương án giải quyết

Các nghiên cứu của McKinsey chỉ cung cấp các dữ liệu thực tế cần thiết cho việc tranh luận chứ không thể khuyến nghị các quốc gia nên thực hiện điều này hay điều khác. Ở đây, lãnh đạo phía chính quyền và khu vực tư nhân cần phối hợp với nhau tìm ra các giải pháp và nhân nhượng. Đứng về góc độ kinh tế thuần tuý, có một số vấn đề mà lãnh đạo các bên cần lưu ý.

Trước hết là vấn đề thời gian. Các nghiên cứu của McKinsey cho thấy tiềm năng cắt giảm phát thải vào năm 2030 là đáng kể, với điều kiện là phải bắt đầu ngay từ bây giờ. Nếu để chậm tới năm 2015 mới bắt tay vào việc thì tình hình sẽ kém thuận lợi hơn nhiều.

Thứ hai là sẽ cần đến hình thức khuyến khích tài chính ở dạng tín hiệu giá cacbon điôxit ổn định lâu dài – có thể là thuế hoặc chứng chỉ cacbon trong một hệ thống mức trần và chuyển nhượng (cap-and-trade system). Cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp là hết sức khốc liệt nên cần phải có một sân chơi bình đẳng giữa các quốc gia. Mức giá 20 euro cho một tấn CO2 có thể làm tăng giá thành thép sản xuất ở châu Âu lên 15% hoặc cao hơn nếu như các nhà sản xuất thép phải mua quyền phát thải. Phương pháp này sẽ khiến cho thép của châu Âu mất khả năng cạnh tranh nếu như không có một hệ thống toàn cầu hoặc sự điều chỉnh thuế suất tại biên giới.

Thứ ba, xác lập các qui tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật, cụ thể như yêu cầu cách nhiệt tính năng cao cho các toà nhà xây dựng mới, nhờ đó có thể sửa lại những bất cập về thị trường đang cản trở người dân và các doanh nghiệp nắm bắt một số cơ hội cắt giảm phát thải có lợi.

Cuối cùng, với việc hôm nay đầu tư vào các cơ hội cho ngày mai, thế giới cũng có thể tạo ra các phương án lựa chọn cho các cơ chế cắt giảm phát thải sẽ trở thành hiện thực vào năm 2030 hoặc 2050. Một số công nghệ hiện nay mới trong giai đoạn nghiên cứu triển khai, ví dụ như tổng hợp hạt nhân hoặc sử dụng  năng lượng sóng biển để phát điện, tỏ ra rất hứa hẹn trong việc cắt giảm phát thải một khi trở nên cạnh tranh về chi phí.

Theo: QLNĐ số 7/2009

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *