Lưới điện truyền tải hướng tới một trật tự thế giới mới

Image[bkeps.com]Những năm gần đây, nhiều công trình phát triển đã định khuôn lại ngành cung cấp điện, trong đó có một số công trình nổi trội. Cuối năm 2005, Báo cáo ngành truyền tải và phân phối của tổ chức ABS (ABS T&D Report) xuất bản lần thứ 5, cùng cơ sở dữ liệu kèm theo đã được phát hành

Báo cáo đã chỉ ra một số thay đổi quan trọng trong lĩnh vực truyền tải, mặc dù ít được báo cáo thường xuyên, nhưng cũng đã có những tác động nhất định. Trong số những chủ đề khác, báo cáo này đã phác họa việc mở rộng gần đây của các hệ thống truyền tải quốc tế. Những phát triển này không chỉ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh quan trọng mà còn nâng cao hiệu quả và giảm giá thành cung cấp điện. Cơ sở hạ tầng của những công trình mới này được xây dựng để truyền tải điện năng qua những khoảng cách rất lớn, từ và tới những quốc gia xa cách tách biệt về địa lý, tạo cơ hội đạt tới độ tin cậy chưa từng có trước đây.

Thị trường truyền tải và phân phối

Theo dự báo, chiều dài tổng cộng các đường dây truyền tải và phân phối trên thế giới sẽ tăng từ 62,3 triệu km hiện nay (2005) lên 68,3 triệu km vào năm 2010. Đường dây phân phối chiếm phần lớn trong số này; đường dây truyền tải, mặc dầu chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng lại đóng vai trò thiết yếu; và một tỉ lệ còn thấp hơn nữa là các đường dây liên kết lưới điện quốc tế. Chúng ta sẽ bàn về các công trình phát triển này sau, nhưng trước hết hãy nêu một vài nét tóm tắt về các sự kiện trong thị trường.

Báo cáo này đưa ra những con số ước tính về quy mô và tình hình phát triển thị trường. Khi bàn về “thị trường truyền tải và phân phối”, thường thì chúng ta vẫn sử dụng từ ngữ có phần chưa chặt chẽ, nhưng ngày càng trở nên rõ ràng là phải có một định nghĩa chuẩn xác hơn, trong đó sử dụng một số yếu tố phân biệt có tính biến động. Hiện nay ABS xử lý vấn đề này bằng cách tách biệt ra trong số những cái mà tổ chức này gọi là “các thị trường có thể xử lý được”. Ngày càng có nhiều công ty công trình điện hiện đang cân nhắc phân bố lại ngân sách hoạt động thị trường của họ, dành nhiều ưu tiên hơn cho các hợp đồng dịch vụ để họ có thể nhận được doanh thu và lợi nhuận tăng cao từ lĩnh vực dịch vụ cũng như từ việc chỉ cung cấp thiết bị. Về phần khách hàng, họ sẽ dễ dàng hơn trong việc tính toán giá trị suốt cuộc đời của thiết bị nếu như họ có trong tay một hợp đồng bao hàm cả nội dung bảo dưỡng và dịch vụ cũng như chi phí mua sắm, và hy vọng rằng, giá này cũng lại rẻ hơn. Còn đối với bên cung cấp, thu nhập từ cung cấp dịch vụ bảo dưỡng suốt cuộc đời công trình có thể sẽ lớn gấp nhiều lần doanh thu bán ban đầu, như vậy lý tưởng mà nói, cả hai bên đều có lợi. Yếu tố thứ hai là các công ty đứng đầu trên thị trường đang chia tay với các sản phẩm “cổ điển”, truyền thống để chuyển sang các dịch vụ kỹ thuật cao, ví dụ như tự động hóa điện lực hoặc các kỹ thuật quản lý tài sản. Ngành chế tạo dây và cáp đã luôn gặp muôn vàn khó khăn. Ba “đại gia” trong lĩnh vực truyền tải và phân phối là ABB, Siemens và Areva, cộng lại chiếm tới 42% thị trường then chốt, đều đã rút ra khỏi lĩnh vực kinh doanh cáp điện. Thế nhưng ngành truyền tải và phân phối không thể tồn tại mà không có dây dẫn và cáp điện. Do đó, ABS đã xác định các thị trường biến động, trong phạm vi từ 45-50 tỉ USD tới 79 tỉ USD, bao gồm tám sản phẩm hoặc phân đoạn kinh doanh, theo cách gọi thích hợp hơn hiện nay.

 

luoi dien truyen tai huong toi 1 trat tu the gioi moi 02.JPG

 

Lưới truyền tải điện châu Âu

 

Ngoài ra cũng cần phải bổ sung thêm một yếu tố phân biệt nữa. Mua các sản phẩm “cổ điển” là việc đầu tư vốn, còn mua các dịch vụ kinh doanh bao gồm sản phẩm và công nghệ hiện hành thì lại có thể được đưa vào ngân sách vốn và vận hành & bảo trì (O&M), do vậy có thể là sự kết hợp của chi phí vốn và chi phí vận hành. Mua hợp đồng bảo dưỡng suốt cuộc đời công trình rất có thể là thuộc tài khoản chi phí vận hành (operating expenditure – opex). Thường thì bảo dưỡng hoặc nâng cấp là khoản chi phí vận hành, tuy nhiên có một mức chồng chéo nhất định giữa ba phạm trù này.

Theo truyền thống, giới quân sự coi pháo binh là “vua chiến trường”. Nhiều năm qua, ngành phát điện đã từng chiếm vị trí độc tôn này trong ngành điện. Những năm gần đây, trừ số ít trường hợp ngoại lệ, lĩnh vực truyền tải luôn bị thiếu hụt đầu tư một cách đáng lo ngại. Ủy ban châu Âu đã chỉ ra trên 50 công trình truyền tải cần phải có để đảm bảo độ tin cậy và độ khả dụng của lưới điện, để thị trường nội địa hoạt động, và để kết nối các nguồn năng lượng tái tạo. Ngoài ra, với 10 nước mới được bổ sung và một số quốc gia không phải là thành viên như Na Uy và Thụy Sĩ, còn cần có 30 công trình khác nữa, để đảm bảo độ tin cậy và độ khả dụng của các lưới điện hoặc việc cung cấp điện trong phạm vi Liên minh châu Âu.

Bức tranh toàn cầu

Trên toàn thế giới có đến khoảng 16.000 công trình nguồn đã được xây dựng, và yêu cầu kết nối chúng với các trung tâm phụ tải là không thể tránh khỏi. Hiện nay, hằng năm Mỹ sản xuất và tiêu thụ 3,8 triệu GWh, gấp hơn hai lần so với 1,8 triệu GWh của Trung Quốc, là nước có sản lượng điện năng đứng thứ hai. Cả hai quốc gia này đều bị thiếu hụt trong khâu truyền tải. Tại Trung Quốc, nhiều nhà máy điện chạy than được xây dựng gần với các trung tâm phụ tải ở miền Đông Nam, cách xa các mỏ than nằm ở phía Bắc hàng ngàn dặm. Trước đây, hệ thống đường sắt Trung Quốc phải sử dụng tới 40% công suất của nó để vận chuyển khối lượng than khổng lồ tới các nhà máy điện, điều đó làm hạn chế khả năng vận tải dành cho ngành công nghiệp chế tạo và gây ách tắc cho khâu lưu thông. Hiện Trung Quốc giải quyết sự mất cân đối này bằng việc xây dựng các nhà máy điện gần mỏ than và các hệ thống truyền tải đưa điện năng đến mọi vùng đất nước, theo như cách nói của người Trung Quốc “vận tải than qua đường dây điện”, thay vì phải vận tải hàng triệu tấn than trên đường sắt như trước đây. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2000 – 2005), Tổng công ty Điện lực Trung Quốc đã chi 44 tỉ USD cho lưới truyền tải để “chuyên tải điện từ miền Tây sang miền Đông và từ miền Nam lên miền Bắc”, như lời phát biểu của ông Gao Yen, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực Trung Quốc. Trong vòng 5 năm tới, điều này sẽ khắc phục được tình trạng tắc nghẽn trong truyền tải điện. Mục tiêu của chính phủ Trung Quốc là xây dựng tại đất nước này một mạng lưới điện cao áp tiên tiến nhất thế giới.

 

luoi dien truyen tai huong toi 1 trat tu the gioi moi 03.JPG

 

    Lưới truyền tải điện ở Mỹ

Cũng trong giai đoạn này, ngành điện Mỹ sẽ chỉ chi khoảng 17,5 tỉ USD cho hệ thống truyền tải, ít hơn cả mức cần thiết để chi cho việc bảo dưỡng hệ thống. Mỹ không chỉ có một mà là ba lưới truyền tải miền tách biệt nhau, được xây dựng để đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương và sau đó là của miền. Công trình “Nghiên cứu lưới truyền tải điện quốc gia” được thực hiện theo đơn đặt hàng của Bộ Năng lượng Mỹ năm 2002 mở đầu như sau: “Hệ thống truyền tải điện là một trong những thành tựu kỹ thuật lớn nhất của thế kỷ 20”, nhưng những vụ mất điện gần đây tại Mỹ đã phơi bày nhiều khiếm khuyết của nó và khẳng định sự cần thiết phải nâng cấp và hiện đại hóa lưới điện, đưa vào áp dụng hệ quản lý thông minh và xây dựng hệ thống đường dây siêu cao áp xương sống. Như vậy hai quốc gia lớn nhất về nhu cầu điện năng đang tiến hành hiện đại hóa nhằm đáp ứng các nhu cầu mới, nhưng nước này thực hiện nhanh hơn nước kia.

Thế giới đang phát triển

Các công trình phát triển lưới truyền tải lớn khác đang làm thay đổi việc cung cấp điện trong từng khu vực, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Nhiều sự kiện lớn đang diễn ra tại khu vực Trung Đông và Bắc  Phi (Middle East and North Africa – MENA). Hiện Bắc Phi đã có đường dây liên kết xuyên qua lục địa này từ Ai Cập tới Maroc, một đầu nối với Trung Đông còn đầu kia nối với Tây Ban Nha. Tại Trung Đông, các lưới điện quốc gia đang được mở rộng để rồi sẽ được kết nối với nhau, tạo ra lưới điện vùng Vịnh. Khi hoàn cảnh cho phép, lưới này sẽ được kết nối với lưới điện của Iran, nhờ đó tiết kiệm được rất nhiều, bởi vì nhu cầu công suất cực đại của Iran xuất hiện vào mùa đông để phục vụ sưởi ấm, trong khi đó nhu cầu công suất cực đại tại các nước vùng Vịnh lại xuất hiện vào mùa hè để chạy máy điều hòa nhiệt độ không khí. Lưới này cuối cùng sẽ bổ sung cho tuyến mạch vòng Địa Trung Hải, đưa dòng điện chạy quanh Địa Trung Hải, liên kết lưới châu Phi và lưới Trung Đông vào mạng lưới UCTE (Union for the Co-ordination of Transmission of Electricity) của châu Âu và qua Nam Âu để đến lưới điện UPS của Nga.

Hai mươi năm trước, chủ tịch của Công ty điện lực Eskom của Nam Phi, hiện cung cấp tới 60% tổng sản lượng điện tiêu thụ tại châu Phi, đã giải thích về sứ mạng của công ty. Ông coi giá điện rẻ là phương tiện để phát triển châu Phi về mặt kinh tế, đem lại sự ổn định về chính trị và xã hội. Cho dù điều này có đúng hay không thì việc liên kết lưới điện của các quốc gia ở Nam Phi cũng đang tiến triển nhanh chóng. Bước tiếp theo sẽ là từ Nam châu Phi đi ngược lên để tới Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi (Economic Community of West African States – ECOWSAS) và song song với hướng này để tiến tới Đông Phi. Khoảng vượt cuối cùng này sẽ dài 3.000 dặm (4.800 km) xuyên qua sa mạc Sahara để tới Ai Cập.

Thành lập năm 1990, ABS là nhà cung cấp hàng đầu thông tin năng lượng cho các công ty điện lực, công ty năng lượng, các nhà chế tạo, tư vấn quản lý, cơ quan chính phủ, ngân hàng đầu tư và các công ty dịch vụ ngành năng lượng,  tài chính. ABS Energy cung cấp các nghiên cứu, phân tích,  dự báo và xuất bản các báo cáo thuộc lĩnh vực năng lượng và môi trường

Ở phía bên kia trái đất, thông qua các lưới điện khu vực Texas và Western Interconnection của Mỹ, Canađa được kết nối với Mêhicô, nước này lại được kết nối qua đường dây SIEPAC (hệ thống điện Trung Mỹ) để kết nối với khu vực Trung Mỹ, phía nam tới tận Panama để cuối cùng, qua Colombia, vươn tới Nam Mỹ. Phía bờ bên kia Thái Bình Dương, tại vùng Đông Nam Á, cũng đang có kế hoạch xây dựng lưới điện bao gồm cả những đường cáp ngầm dưới biển nối Philippin với Inđonêxia rồi qua đảo Borneo đến Singapo. Từ đó chỉ còn một chặng cỡ 4.800 km dọc theo các lưới điện hiện có của Malayxia và Thái Lan để đến với hệ thống mới đang được xây dựng để trao đổi điện với tỉnh Vân Nam, miền Nam Trung Quốc.

Theo KHCN ĐIỆN SỐ 1/2008

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *