Nâng cấp các tuabin V94.3A
Trong
vòng hơn 4 năm nay tại Mainz-Wiesbaden, Siemens không ngừng cải tiến
chiếc tuabin khí lớn nhất của họ, chiếc SGT54000F cấp F (trước đây mang
tên V94.3A). Các cải tiến này bao gồm việc thiết kế lại cánh và cánh
hướng dòng tầng 1 và 2 của máy nén khí, bố trí lại cánh tầng 4 để giảm
tổn thất khí động tại mức lưu khối (mass flow) tăng cao, thay đổi các
thông số vận hành để giữ ở chế độ trộn sơ bộ (cho phép hạn chế phát
thải) dưới 50% phụ tải và cải tiến vật liệu gốm chắn nhiệt. Kết quả là
đã cải thiện được khí động học máy nén khí và tuabin, tăng công suất
tuabin khí, góp phần xác lập kỷ lục thế giới thời đó: hiệu suất nhiệt
chu trình hỗn hợp đạt 58,4%. Trong quá trình tiếp tục triển khai này,
các kỹ sư cũng đã tạo ra hệ thống thủy lực cho phép giảm khe hở hướng
kính, tức là khoảng hở giữa cánh tuabin và vỏ máy.
Hình 2. Nguyên lý làm việc của hệ thống HCO
Dự
án này thực hiện trên tuabin khí V94.3A chạy bằng khí tự nhiên có đốt
kèm dầu, quay máy phát điện làm mát bằng hyđro, công suất 330 MVA. Như
chúng ta đã biết, tuabin V94.3A cấp F chính là tiền thân của tuabin
SF58000H và tuabin này chắc chắn sẽ được nâng cấp nhờ các công trình
triển khai thực hiện tại nhà máy KMW. Thiết bị bao gồm một tuabin hơi
ba xilanh ngưng hơi trích hơi, mã hiệu SST5-6000, công suất 140 MW,
trong cấu hình nhiều trục 1 + 1, kéo một máy phát làm mát bằng không
khí, công suất 200 MVA. Lò sinh hơi thu hồi nhiệt (heat recovery steam
generator - HRSG) là loại tuần hoàn tự nhiên, gia nhiệt lại, ba áp suất, năng suất 278 tấn hơi/giờ, thông số hơi là 110 bar, 550/560oC nhiệt độ khói thải là 90oC. Nhà máy đi vào vận hành thương mại hoàn toàn vào năm 2001.
Siemens
tiếp tục sử dụng nhà máy để thử nghiệm hàng loạt các cải tiến kỹ thuật.
Sau khi hoàn thành và thử nghiệm trực tuyến trong điều kiện vận hành
thực tế trong thời gian trên 2 năm, từ năm 2002 đến năm 2004, các bộ phận hợp thành đã được cải tiến và các hệ thống mới hiện đang được lắp đặt ở dạng tiêu chuẩn cho tất cả các tuabin khí SGT5-4000F chế tạo mới.
Lắp
đặt lần đầu tiên hệ thống HCO (tối ưu hóa khe hở bằng thủy lực) đã giúp
nâng cao công suất và hiệu suất tổng đạt mức 58,5%. Khe hở hướng kính
sít sao tại các phần máy nén khí và tuabin là yếu tố chính góp phần
nâng cao hiệu suất, tuy nhiên trong mọi điều kiện vận hành đều phải duy
trì khe hở hướng kính tối thiểu, tránh để phần quay va chạm với phần
tĩnh. Theo quan điểm của Siemens, giải pháp chính là ở chỗ đạt được sự
cân bằng cần thiết giữa đặc tính khi nóng lên và khi nguội đi của vỏ và
các bộ phận hợp thành của rôto. Nói chung rôto phản ứng với nhiệt chậm
hơn, nhưng có thể được làm nóng lên và nguội đi đủ nhanh nhờ các dòng
không khí thứ cấp bên trong.
Vỏ
tuabin của hãng Siemens có tuyến dòng hình côn nên thuận lợi cho việc
áp dụng công nghệ điều khiển khe hở bằng cách phối hợp gia tăng hướng
trục và hướng kính. Có thể dễ dàng chủ động điều khiển khe hở bằng cách dịch chuyển rôto ngược với hướng dòng khí, và do đó giảm được khe hở hướng kính bên trên đầu cánh tuabin.
Ngay
cả máy có cân bằng nhiệt tốt như tuabin SGT5-4000F với khe hở rất sít
sao, thì cũng phải có khoảng chừa lớn không cần thiết khi chạy ở phụ
tải nền lúc máy đã nóng lên hoàn toàn bởi vì khe hở được thiết kế cho
các điều kiện khởi động lại nóng là chế độ vận hành khó khăn nhất. Hơn
nữa, khe hở cần phải đủ lớn để tính đến hiện tượng méo vỏ máy trong quá
trình nâng nhiệt độ.
Hai
hiệu ứng này, tức là khả năng khởi động lại nóng và méo vỏ máy, cho
thấy có thể giảm khe hở tuabin sau khi máy đã nóng lên hoàn toàn. Hệ
thống HCO sử dụng tiềm năng này bằng cách di chuyển rôto về phía máy
nén không khí sau khi máy đã nóng lên hoàn toàn, nhờ đó giảm khe hở
hướng kính được khoảng 1 mm. Có thể chứng minh rằng lợi ích về tăng
hiệu suất tuabin (khoảng 0,35%) luôn lớn hơn tổn thất (khoảng 0,15%) do
khe hở tăng lên ở phần máy nén khí.
Thiết
kế hệ thống HCO chỉ cho phép giữ ở hai vị trí: đóng và mở, được đảm bảo
nhờ các van chặn cơ khí trong các xilanh thủy lực. Không cần phải có
mạch phản hồi, cơ cấu đo vị trí. Chỉ cần đặt áp lực dầu là rôto tự động
dịch chuyển tới đúng vị trí. Bởi vì lực hướng trục của tuabin khí hướng
về phía tuabin nên hệ thống này an toàn, không có sự cố. Trường hợp mất
áp lực dầu, lực hướng trục tự nó sẽ đẩy rôto trở lại vị trí “an toàn”.