Nhiệt điện Phú Mỹ: Bước đột phá của Công nghiệp Điện lực Việt Nam

ImageTừ một nhà máy công suất 288 MW, sản xuất 1,08 tỷ kWh điện (năm 1997); đến 2006, tổng công suất lắp máy được nâng lên là 2451 MW, sản lượng điện phát lên lưới quốc gia đạt 15,74 tỷ kWh (chiếm 28% tổng sản lượng của toàn hệ thống).

Những con số ấn tượng này không chỉ minh chứng cho sự nỗ lực vượt bậc của Công ty TNHH MTV Nhiệt điện Phú Mỹ trong quá trình tiếp cận, làm chủ công nghệ hiện đại, mà còn tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng tốc của ngành công nghiệp Điện lực nước ta.

Công ty TNHH MTV Nhiệt điện Phú Mỹ điện Phú Mỹ (tiền thân là Nhà máy điện Phú Mỹ) chính thức đi vào hoạt động năm 1997, trên cơ sở tiếp nhận quản lý vận hành thương mại nguồn điện tuabin khí PM 2.1, công suất 288 MW. Đến năm 2005, Công ty có thêm PM 2.1 MR-276 MW, PM 1-1090 MW, đuôi hơi PM 2.1-160 MW, PM 4-450 MW, đuôi hơi PM 2.1 MR-160 MW, trở thành đơn vị phát điện lớn nhất, giữ vai trò đầu mối quan trọng của Trung tâm Điện lực Phú Mỹ nói riêng và hệ thống điện Việt Nam nói chung.

Ông Huỳnh Khương Ninh – Phó giám đốc Công ty cho biết: Các cụm tổ máy phát điện tuabin khí của Công ty đều có công nghệ hiện đại, với công suất lớn, lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, do yêu cầu xây dựng nhà máy cấp bách để chủ động khắc phục tình trạng thiếu điện và sử dụng hiệu quả nguồn khí đồng hành Bạch Hổ, nên thời gian đầu công tác chuẩn bị nguồn nhân lực chưa kịp đáp ứng yêu cầu quản lý vận hành các tổ máy. Với 90% số CBCNV Công ty là những người mới ra trường, nên sự tiếp cận, làm chủ kỹ thuật công nghệ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là công tác bảo trì, sửa chữa. Hầu hết các vấn đề liên quan đến quản lý kỹ thuật đều phải phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài, không chỉ khiến chi phí bảo trì hàng năm tăng cao, mà Công ty còn luôn bị động khi thiết bị gặp trục trặc hay sự cố bất ngờ.

Vì thế, lãnh đạo Công ty xác định công tác đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; luôn tạo điều kiện, động viên CBCNV tích cực học tập, nghiên cứu tài liệu kỹ thuật, bám sát chuyên gia của nhà chế tạo để tự nâng cao trình độ và tích luỹ kinh nghiệm. Ngoài tự đào tạo tại chỗ, rất nhiều CBCNV còn được cử tham gia các khoá đào tạo về ngoại ngữ, vi tính, kiến thức về quản lý, pháp luật trong kinh doanh, nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, các trung tâm đào tạo trong và ngoài nước; nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý, trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt và cán bộ kế cận. Nhờ vậy, chất lượng nguồn nhân lực của Công ty đã không ngừng được nâng cao. Công ty bước đầu chủ động đảm nhận được công tác bảo trì và một số lĩnh vực sửa chữa.

Năm 2000, Công ty đã tự thực hiện tốt công tác đại tu GT22. Năm 2002 – 2003, Công ty đã chủ động đề xuất và được EVN cho phép kéo dài thời gian (chu kỳ) vận hành của GT22, GT24, GT25 trên cơ sở vẫn đảm bảo an toàn vận hành; duy trì vận hành đuôi hơi PM1 và vẫn sử dụng khí từ nguồn Bạch Hổ. Ngoài ra, CBCNV Công ty cũng chủ động chủ động kiểm tra, phát hiện và tham gia khắc phục kịp thời những hư hỏng bất thường của tổ máy PM1, xử lý nhanh van phun nước tự động đường hơi tắt trung áp bị gẫy, phục hồi van tái sấy hơi nước của đuôi hơi, van cầu hệ thống nhiên liệu Siemens… Sự trưởng thành nhanh chóng của Công ty không chỉ thể hiện ở việc đảm bảo cho các tổ máy vận hành an toàn, ổn định và liên tục mà còn góp phần đào tạo nguồn lao động dồi dào, chất lượng cho các nhà máy nhiệt điện khí sau này như: Trung tâm khí – điện – đạm Cà Mau và Trung tâm Điện lực Ô Môn (Cần Thơ)…

Bên cạnh việc nỗ lực đào tạo nguồn nhân lực, Công ty cũng rất quan tâm đến công tác an toàn, bảo hộ lao động. Chính quyền phối hợp cùng Công đoàn Công ty đã thực hiện đầy đủ công tác An toàn lao động theo Bộ luật Lao động và Nghị định 06/CP của Chính phủ. Đặc biệt, Công ty đã phân định trách nhiệm cụ thể về công tác BHLĐ cho các phòng ban và phân xưởng liên quan, đồng thời bố trí các cán bộ, kỹ sư có năng lực, nhiệt tình để làm công tác BHLĐ. Các chế độ thực hiện Phiếu công tác, Phiếu thao tác, việc huấn luyện định kỳ, kiểm tra sát hạch Quy trình quy phạm hàng năm luôn được theo dõi sát sao… Đồng thời, Công ty thường xuyên phối hợp với các đơn vị chuyên môn kiểm tra công tác vệ sinh công nghiệp, hệ thống phòng cháy và chữa cháy theo sơ đồ bố trí dụng cụ phòng cháy tại các phân xưởng sản xuất trong mỗi ca trực…

Chính vì vậy, hơn mười năm qua, Công ty luôn đảm bảo vận hành các tổ máy an toàn, ổn định, không để xảy ra sự cố nghiêm trọng, hoả hoạn hay tai nạn do chủ quan; duy trì hiệu quả phương thức sản xuất điện, phát lên lưới điện gần 77 tỷ kWh. Riêng năm 2005, Công ty đã phát lên lưới điện 13,8 tỷ kWh và năm 2006 là 15,74 tỷ kWh; tỷ lệ điện tự dùng của Công ty đều thấp hơn kế hoạch giao (năm 2005 là 1,99%; năm 2006 là 1,72 %). Hiện nay, công suất của các nhà máy điện trong Công ty chiếm khoảng 22% tổng công suất và khoảng 28% – 30% tổng sản lượng của toàn hệ thống điện Quốc gia. Đặc biệt, vào cao điểm mùa khô năm 2005, 2006 và thời điểm hiện nay, mỗi ngày Công ty sản xuất từ 45 đến 55 triệu kWh, chiếm khoảng 35% sản lượng điện toàn hệ thống.

Theo: TC Điện lực

 

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *