PCC4 sau 20 năm xây dựng và trưởng thành

Image[bkeps.com]Trên 250 công trình đường dây, hàng ngàn MW công suất các nhà máy thuỷ điện… đã và đang vận hành ổn định, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước là những thành tựu quan trọng, niềm tự hào của các thế hệ CBCNV Công ty TNHH MTV Xây lắp Điện 4 (PCC4) sau 20 năm xây dựng và trưởng thành.

Những ngày gian khó

Trên cơ sở hợp nhất Công ty Xây lắp điện 1 và Công ty Xây lắp Đường dây và Trạm IV, Công ty TNHH MTV Xây lắp Điện 4 chính thức đi vào hoạt động từ tháng 12/1987, với ngành nghề chủ yếu là xây lắp các công trình đường dây và trạm biến áp, công trình nguồn điện. Ngay sau khi ra đời, cùng với việc tập trung hoàn thiện cơ cấu tổ chức, sắp xếp lại lực lượng lao động, Công ty đã nhanh chóng bắt tay vào thi công nhiều công trình điện và công trình dân dụng. Trong đó, Thuỷ điện DrâyH’linh là một công trình tiêu biểu, thể hiện tinh thần vượt khó, năng lực và bản lĩnh của người thợ Xây lắp 4. Ông Nguyễn Hữu Sơn, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty kể lại: “Hồi ấy, điều kiện giao thông đi lại khó khăn, thiếu nguồn thông tin, nghe đến phải triển khai công việc trên địa bàn tỉnh ĐakLak, nhiều anh em công nhân rất lo lắng. Song trước sự quan tâm, động viên của lãnh đạo Công ty, hàng trăm CBCNV đã không quản ngại vất vả, thiếu thốn, hăng hái đến với núi rừng Tây Nguyên. Hơn nữa, đây cũng là lần đầu tiên tiếp cận với thiết bị thuỷ điện của Tiệp Khắc, Cộng hoà Dân chủ Đức, nên những người thợ PCC4 lại phải gồng mình, ngày đêm nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, cùng các chuyên gia nước ngoài lăn lộn trên công trường”. Sự nỗ lực này đã góp phần quan trọng, đưa Nhà máy DrâyH’linh vào vận hành đúng tiến độ, đảm bảo cấp điện, kịp thời phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, nhiệm vụ chính trị của tỉnh ĐakLak. Thành công từ DrâyH’linh, nhất là việc tự gia công chế tạo tuyến năng lượng, buồng xoắn tua bin cho nhà máy… đã từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý điều hành sản xuất của CBCNV Công ty.

Cũng như các đơn vị xây lắp khác, những năm đầu thời kỳ đổi mới, trong khi nhu cầu xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước ngày càng tăng thì khả năng đáp ứng của Công ty vẫn còn nhiều hạn chế, cả về nguồn nhân lực, máy móc phương tiện, thiết bị công tác lẫn nguồn vốn. Tuy nhiên, với phương châm “Tất cả vì tiến độ công trình”, PCC4 nhanh chóng khắc phục tình trạng thiếu phương tiện thiết bị thi công, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, trang bị phương tiện máy móc, dần thay thế phương pháp thi công thủ công, lấy sức người là chính bằng những biết phương tiện thiết bị thi công hiện đại. Nhờ đó mà chỉ sau hơn một năm nhận nhiệm vụ thi công đường dây 220 kV Phả Lại – Hải Phòng, với chiều dài 52 km, đi qua nhiều sông lớn, đường quốc lộ, khu đông dân cư, Công ty đã hoàn thành đưa vào vận hành đúng dịp kỷ niệm 45 năm Quốc khánh đất nước, giữ đúng lời hứa với chính quyền và nhân dân thành phố Cảng. Đến năm 1990, Công ty tiếp tục nhận thi công và hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình đường dây 110 kV Bắc Giang – Đồng Mỏ và 110 kV Thái Nguyên – Cao Bằng. Theo ông Nguyễn Hữu Sơn, lúc ấy đời sống của người lao động còn khó khăn, ngoài nhiệm vụ chính, Công ty còn làm việc với chính quyền các tỉnh để nhận thi công thêm các công trình điện hạ thế, qua đó vừa làm, vừa học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm, đồng thời giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho CBCNV.

Bước ngoặt thành công

Năm 1992, trước yêu cầu lớn về điện cho các tỉnh phía Nam, Chính phủ quyết định xây dựng đường dây truyền tải điện 500 kV Bắc Nam và Công ty được giao thi công trên 300 km, cung đoạn từ Đăklei (Kon Tum) đến Buôn Ma Thuột (ĐăkLăk). Đây là cung đoạn đi qua địa hình hiểm trở của núi rừng Tây Nguyên, điều kiện thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Hơn nữa, đây lại là lần đầu tiên. Công ty tham gia thi công một dự án lớn, tầm cỡ khu vực với nhiều chủng loại vật tư thiết bị, công nghệ mới, hiện đại của nước ngoài, đòi hỏi cao về chất lượng và tiến độ thi công gấp rút. Với sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, CBCNV Công ty đã đoàn kết, vượt qua nhiều thử thách, khó khăn xây dựng công trình đường dây đạt chất lượng tốt, vượt tiến độ đề ra, mở ra một thời kỳ mới. Người thợ xây lắp điện vươn lên làm chủ khoa học công nghệ hiện đại. Qua công trình thế kỷ này, Công ty đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý trong công tác quản lý, tổ chức điều hành thi công, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, xử lý sự cố… Quan trọng hơn là từ đây, Công ty đã có điều kiện tích luỹ, đầu tư nâng cấp nhà xưởng, mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện, nâng cao đời sống CBCNV, mở rộng điạ bàn hoạt động tới các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và khu vực phía Nam. Nhiều công trình Công ty thi công đã liên tiếp được đưa vào vận hành như: Đường dây 220 kV, 110 kV Pleiku – Krông Buk, Phả Lại – Hải Phòng (mạch II), Thái Nguyên – Võ Nhai, Cai Lậy – Mộc Hoá, Đồng Đăng – Giếng Đáy, Tằng Loỏng – Lào Cai… Các đường dây 35 kV cũng được hoàn thành phục vụ công tác xoá đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc vùng sâu, vùng xa như: Thác Giềng – Na Rì, Đồng Mỏ – Văn Quan…

Thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn V, Công ty được giao thi công nhiều công trình trọng điểm, trong đó có đường dây 500 kV mạch II như Pleiku – Phú Lâm, Phú Mỹ – Nhà Bè, Pleiku- Đà Nẵng – Hà Tĩnh, Hà Tĩnh – Nho Quan – Thường Tín… Các đường dây 220 kV Thái Bình – Hải Phòng, Việt Trì – Sơn La, Yên Bái – Thanh Thuỷ – Hà Giang – Tuyên Quang và các đường dây 110 kV Phú Lâm – Đức Hoà, Đông Hưng – Móng Cái… trạm biến áp như: Trạm 500 kV Ialy, Nho Quan (Ninh Bình); các trạm biến áp 220 kV – 110 kV Lào Cai, Ninh Bình, Tràng Bạch, Trảng Bàng, Kon Tum, Hải Dương, Châu Đốc, Điện Biên, Sơn Tây… Nhiều công trình được gắn biển chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Riêng công trình trạm 220 kV Lào Cai còn được Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Chủ tịch Công đoàn Xây dựng Việt Nam tặng Huy chương Vàng chất lượng cao. Những công trình này đều được hoàn thành đúng tiến độ, đạt chất lượng tốt, góp phần điều tiết nguồn điện theo yêu cầu của Điều độ Hệ thống điện quốc gia, khắc phục tình trạng thiếu điện ở miền Bắc và phục vụ phát triển kinh tế – xã hôị của các địa phương trong cả nước.

Bên cạnh đó, Công ty còn nhận thi công nhiều công trình công nghiệp, dân dụng, các dự án thủy điện và hoàn thành với chất lượng cao như: Mở rộng Nhà máy Chế tạo Thiết bị điện Đông Anh, sửa chữa Nhà máy điện Uông Bí, Thuỷ điện Sông Pha, Cấm Sơn, Kỳ Sơn, Tủa Chùa; lắp đặt hệ thống băng tải Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch và hàng chục hệ thống cột vi ba phục vụ ngành Bưu chính viễn thông… 

Để đáp ứng yêu cầu phát triển và những đòi hỏi gay gắp của thị trường xây lắp, Công ty đang tập trung củng cố, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, mô hình sản xuất và cơ chế quản lý, thực hiện đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm, để nâng cao năng lực của dây chuyền thiết bị công nghệ sẵn có và chủ động trong sản xuất kinh doanh. Thời gian tới, Công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh các lĩnh vực như xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, cấp thoát nước, sân bay, bến cảng; chú trọng sản xuất cột điện thép, kết cấu kim loại mạ kẽm, sản xuất vật liệu xây dựng, lắp ráp sứ cách điện; thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị điện, thử nghiệm kết cấu kim loại của các cột điện trung, cao thế, lọc dầu máy biến áp đến 500 kV… phấn đấu trở thành doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. 

20 năm xây dựng và trưởng thành là 20 năm nỗ lực, phấn đấu vượt qua bao gian khó của các thế hệ CBCNV Công ty và được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà Nước và các bộ ngành, địa phương. Song hơn hết, đó chính là uy tín của Công ty với các chủ đầu tư ngày càng được củng cố, thương hiệu PCC4 từng bước được khẳng định và trở thành một trong những thương hiệu hàng đầu ở nước ta về xây lắp các công trình điện.

Từ năm 1987 đến năm 2007 PCC4 đã hoàn thành trên 250 công trình lớn

 Hơn 1.900 km đường dây 220 kV, 110 kV

– 40 trạm biến áp từ 110 kV đến 500 kV

– 5 nhà máy thuỷ điện

– 25 ngàn m2 công trình công nghiệp, dân dụng

– Hàng ngàn km đường dây và trạm biến áp trung, hạ thế

Quy mô vốn:

– Năm 1988 đạt 1,122 tỷ

– Năm 2007 là 61 tỷ đồng.

Giá trị sản lượng:

– Năm 1988 đạt 2,516 tỷ đồng

– Năm 2007 dự kiến là 355 tỷ đồng.

Theo TC Điện lực số 12 – 2007

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *