Xây dựng các nguồn điện mới

Image[bkeps.com]Theo Quyết định số 40/2003/QĐ-TTg về việc hiệu chỉnh một số nội dung thuộc quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có xét triển vọng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, các nguồn điện mà EVN đăng ký đưa vào hoạt động trong năm 2006-2007 gồm thủy điện Tuyên Quang 342MW, nhiệt điện Hải Phòng 600MW, thủy điện A Vương 1 (170 MW), thủy điện Quảng Trị 70MW, thủy điện Đakring 100MW, nhiệt điện Ninh Bình 300MW…

Nhưng hiện nay nhiều nhà máy trong số này đang bị chậm tiến độ. Theo báo cáo về tiến độ các nhà máy điện của EVN đi vào vận hành trong năm 2007, thì chỉ có thủy điện Quảng Trị (tổ máy 1 và 2 đã đi vào hoạt động tháng 4 và tháng 6), Tuyên Quang (tổ máy 1 – tháng 10), Uông Bí mở rộng (tổ máy 1 – tháng 4), Đại Ninh (tổ máy 1 – tháng 12). Còn các nhà máy khác như nhiệt điện Hải Phòng, Ninh Bình, thủy điện A Vương… chưa thấy đâu.

Riêng nhiệt điện Uông Bí mở rộng (tổ máy 1) tính đến nay đã chậm tiến độ gần 2 năm. Nếu những nhà máy này đi vào hoạt động đúng tiến độ thì chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng thiếu điện như hiện nay. Trong năm 2008, EVN sẽ đưa vào vận hành 7 công trình điện với tổng công suất 1.488MW, gồm: thủy điện Tuyên Quang, Pleikrông, A Vương, Sông Ba Hạ, Buôn Kuôp, Bản Vẽ và nhiệt điện Hải Phòng 1.

Theo đánh giá của EVN, dự kiến tổ máy 1 nhà máy thủy điện Pleikrông sẽ được phát điện trong tháng 3-2008 và tổ máy 2 trong tháng 6-2008, đáp ứng mục tiêu của Tổng sơ đồ VI. Tuy nhiên tiến độ dự án này cũng  bị chậm 1-2 tháng so với mục tiêu đề ra. Nguyên nhân chính là tuabin của máy 1 nhập từ nước ngoài về chậm.

Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ cũng dự kiến phát điện tổ máy 1 trong tháng 8-2008 và tổ máy 2 vào tháng 11-2008, đáp ứng yêu cầu vận hành của Tổng sơ đồ VI nhưng so với tiến độ vẫn chậm khoảng 9 tháng. Nguyên nhân chính là việc tổ chức phối hợp giữa các nhà thầu còn chưa đồng bộ.

Đối với nhà máy thủy điện Buôn Kuôp, qua tiến độ thực tế, tổ máy 1 vẫn có thể phát điện được trong năm 2008. Tuy nhiên, do điều kiện địa chất các hạng mục công trình hở và hầm rất phức tạp, chủ yếu là đá bột kết cấu có cường độ thấp với nhiều đứt gãy, đá nứt nẻ mạnh, nên trong quá trình thi công phải xử lý sạt trượt, gia cố mái dốc, tốn rất nhiều thời gian. đặc biệt nền đập chính bờ trái sau khi ngăn sông Srêpôk, thẩm thấu qua vai và nền đập lớn, kể cả vách hồ bờ trái.

Hiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, EVN và nhà thầu đang tập trung tăng cường lực lượng máy móc và nhân công để thi công nhà máy thủy điện Buôn Kuôp đặc biệt là hạng mục công trình ngầm để bù lại thời gian chậm trễ. EVN đã yêu cầu nhà thầu hết sức chủ động nguồn nhân lực, vật lực thi công và thi công 3 ca liên tục, kéo dài suốt cả năm cho tới khi vận hành nhà máy. Riêng dự án thủy điện Bản Vẽ có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu chống lũ năm 2007 nhưng tiến độ thi công đang bị chậm khoảng 3 tháng so với yêu cầu. Và sự cố sập núi mới đây làm 18 kỹ sư, công nhân thiệt mạng trong lúc khai thác đá chắc chắn sẽ làm dự án chậm trễ thêm.

Theo SGGP

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *